Giê-rê-mi 29, Jer 29

Tương lai của quá khứ...

I. Nhấn vào đây để ĐỌC trước trọn Giê-rê-mi 29

II. Một điều Kinh Thánh dạy: (Với dân Ngài đang bị lưu đày, Chúa phán...)

11 Vì chính Ta biết rõ chương trình Ta hoạch định cho các ngươi. Ta có chương trình bình an thịnh vượng cho các ngươi, chứ không phải tai họa. Ta sẽ ban cho các ngươi một tương lai đầy hy vọng.

III. Suy gẫm 

Câu hỏi #780: Lời hứa của Tương lai và Hy vọng cho dân sự của Chúa được xây dựng trên nền tảng gì?

IV. Áp dụng

Kính lạy Đức Chúa Trời: con cảm ơn Chúa đã chỉ cho con thấy rằng lời hứa của một tương lai và niềm hy vọng của dân sự Ngài đã được xây dựng, một cách lạ lùng nhưng chắc chắn, ở trên nền tảng của quá khứ--cái qua khứ của việc hoàn tất 70 năm sống trong lưu đày, cái quá khứ của sự sống hài hòa nơi đất khách, và cái quá khứ của nỗ lực tìm kiếm sự an sinh và cầu nguyện cho xứ người. Khó làm, nhưng nếu hoàn tất tốt đẹp theo lời Chúa dạy, thì dân Ngài sẽ có một tương lai và hy vọng. Và đó là chương trình của Ngài. Con cảm ơn Chúa Giê-su đã đem con đến điểm này để nhắc con về nguyên tắc gieo gặt của Ngài (2 Cô 9:6). Lạy Chúa! Xin giúp con biết áp dụng bài học này vào trong lối sống hằng ngày của con để con sẽ ngóng về tương lai hy vọng bằng cách sống trong hiện tại một cách phấn khởi vâng lời cho dù đang ở trong những ngày lưu đày. Xin dạy con biết trông cậy nơi chương trình của Ngài. Amen

*****************************

Future of the past... 

I. Click here to first READ Jeremiah 29

II. One thing the Bible teaches: (Talking to His people in exile, the Lord said...)

11 For I know the plans I have for you, declares the Lord, plans for welfare and not for evil, to give you a future and a hope.

III. Reflection

* Question #780: What were the promised future and hope for the Lord's people based on? 

IV. Application

Dear Lord God: I thank You for showing me that the promised future and hope for Your people were based, strangely but assuredly, on the past--the past 70 completed years of exile living, the past whole-heartedly living in the foreign land, and the past efforts in seeking the welfare of, and praying for, the host country. Hard to do but, if done well as You instructed, there is a future and hope for Your people. And those were Your plan. I thank You, Lord Jesus, for taking me to this point to remind me of Your principle of sowing and reaping (2 Cor. 9:6). O Lord! Please help put this learning into my living today so that I will look forward to a future by living my present wholeheartedly in obedience even in exile away from the homeland. Please teach me to trust in Your plans. Amen 

Comments

  1. Xin hoan nghênh sự đóng góp của quý vị và các bạn liên quan đến câu hỏi của ngày hôm nay (KHÔNG cần có tài khoản Google.)

    Your contributing answer to the question of the day is welcome (NO need of a Google account.)

    ReplyDelete
  2. Cám ơn Chúa Đấng con đang thờ phượng và hầu việc, Đấng mà con đang trông cậy mỗi giây phút trong đời sống con, phó thác mọi sự cho Ngài, và nuôi mình trong sự thành tín của Ngài (Thi 37:3). Xin cho con cứ tiếp tục trải nghiệm, như đã từng, những hứa ngôn quí báu Ngài (Ê sai 40:31). Amen!

    ReplyDelete

Post a Comment